Tin mừng Gioan có cả một chương nói về việc Phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng Phục sinh thuộc về bản chất của cuộc Tử nạn chặt chẽ đến nỗi thánh sử không dời việc tôn vinh Chúa Giêsu vào lúc sống lại mà đặt nó ngay từ khi Người chịu treo thập giá. Việc Phục sinh chẳng phải là một biến cố tiếp theo cái chết, nhưng là một yếu tố của Giờ được xét như một bản thể Giờ Chúa Giêsu qua khỏi thế gian này để đến cùng Cha. Thánh sử mô tả giá trị mặc khải và giá trị cứu rỗi của Giờ đó không phải tiếp theo cuộc Phục sinh, song từ trước lúc Chúa Giêsu chết, vì thần học của ông bao gồm toàn thể các sự kiện. Ngay đầu diễn từ giã biệt, ông trình bày cho thấy Chúa Giêsu đang giải thích làm sao việc Người ra đi chẳng phải là ra đi nhưng là đến thật sự với môn đệ. Vì thế, các lần hiện ra của Chúa Giêsu phục sinh, đối với Gioan, không hẳn là những bằng chứng hộ giáo về thực tại Phục sinh cho bằng là những giai đoạn mặc khải ý nghĩa đích thực của việc Người ra đi: ra đi là đến với thuộc nhân của Người.Chúng ta vừa cử hành Tam nhật Vượt qua để hiện tại hóa cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Chúa Giêsu. Cả bốn Tin mừng đều thuật loại biến cố Đức Giêsu Phục sinh bằng các sự kiện về ngôi mộ và những lần hiện ra của Đức Giêsu. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại những gì đã diễn ra vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, với sự xuất hiện đặc biệt của Maria Macđala và người Môn Đệ Chúa Giêsu yêu mến. Trước hết, Tin Mừng cho biết Maria Macđala ra mộ vào sáng tinh sương, lúc trời còn đang tối. Chi tiết này cho thấy Maria Macđala vẫn còn ở trong bóng tối, chưa nhận thấy ánh sáng. Cách nào đó, có thể hiểu Maria Macđala đang sống trong bóng đêm của lòng mình nên chưa thấy được ánh sáng Phục Sinh.[2]
Khi ra mộ, các môn đệ thấy khăn vải mai táng Chúa Giêsu đã được sắp xếp gọn gàng. Sự lạ lùng này đã giúp cho người môn đệ Đức Giêsu yêu mến nhận ra được ý nghĩa của dấu chỉ. Vì thế, Tin Mừng viết “ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,9)[3]. Hai hành động “thấy” và “tin” của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ ngữ. Thật vậy, những gì người môn đệ thấy hôm nay không chỉ là thấy những băng vải mà là mọi thứ ông đã thấy trong suốt thời gian theo Đức Giêsu trên hành trình rao giảng Tin Mừng.[4] Dĩ nhiên, những gì ông thấy hôm nay cũng gợi lại tất cả những gì đã thấy khi đứng dưới chân Thập giá Đức Giêsu. Cái thấy của người môn đệ này là thấy hết giá trị, thấy tường tận những ý nghĩa của các biến cố đã được chứng kiến.
Như vậy, cách thức Tin Mừng trình bày về người môn đệ Đức Giêsu yêu mến làm cho ông trở thành một con người lý tưởng, một người môn đệ mẫu mực cho tất cả chúng ta cũng như cho mọi Kitô hữu ở mọi nơi và trong mọi lúc. Sự kiện Chúa Giêsu Phục sinh là sự kiện độc nhất vô nhị, một sự kiện “vô tiền khoáng hậu” trong toàn bộ lịch sử nhân loại. Là Kitô hữu, là người môn đệ Đức Giêsu, chúng ta không nghi ngờ gì nữa về mầu nhiệm Phục sinh của Người. Nhưng xét trong thực tế, chúng ta đang sống đời sống Đức tin của chúng ta theo cung cách của Maria Macđala hay theo của người Môn đệ Đức Giêsu yêu mến. Câu chuyện Tin mừng hôm nay giúp chúng ta học được gì từ hai nhân vật này?
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, dù Đức Giêsu đã sống lại, nhưng tâm hồn Maria Macđala vẫn còn đau buồn khi nhìn thấy thực trạng ngôi mộ. Bà đau khổ bởi không hiểu được ý nghĩa của huyệt mộ. Tại sao vậy? Đó là do bà vẫn đứng ở chỗ đứng của con người, vẫn hiểu theo cách hiểu của con người, vẫn tin theo cách tin của con người. Bà chưa dám vượt qua những giới hạn của con người. Vì thế, bà chưa biết được rằng đức Giêsu đã phục sinh.
Cũng vậy, nếu chúng ta chưa vượt qua những giới hạn của con người, chưa dám vượt qua cách hiểu và cách sống Đức tin cũ kỹ; chúng ta chưa tin Chúa Kitô phục sinh, không thể thấu hiểu được mầu nhiệm ấy, không thể đón nhận và sống màu nhiệm ấy một cách sung mãn và tròn đầy được. Vì thế, chúng ta cần lắm những bước nhảy của đời sống Đức Tin như người Môn đệ Đức Giêsu yêu mến, người đã chạy rất nhanh ra mộ. Như vậy người Môn đệ Đức Giêsu yêu mến đã tin biến cố Phục sinh thế nào thì chúng ta cũng cần tin và tin vững vàng vào Đấng Phục sinh như vậy.
Trước Mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu, người Kitô hữu chúng ta tin suông không thôi thôi thì chưa đủ. Chúng ta cần dám đi vào tương quan với Đức Giêsu, đi vào trong tương quan với tha nhân, đi vào giữa cuộc đời để sống chứng nhân. Có như vậy, chúng ta mới thực sự là những người tin. Có như vậy, chúng ta mới thực sự là những môn đệ. Trong niềm vui mừng Chúa Phục Sinh, chúng ta được mời gọi chúng ta suy niệm hình ảnh của Maria Macđala và của người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến qua việc nhận biết ý nghĩa những dấu chỉ của biến cố Phục Sinh.
Ước mong, tất cả chúng ta biết tìm kiếm ý nghĩa của những dấu chỉ trong tim mình cũng như dấu chỉ của thời đại. Nhờ đó chúng ta biết tin và biết sống Mầu nhiệm Phục sinh, hầu có thể nói lên lời của người môn đệ Đức Giêsu yêu mến: “tôi đã thấy và đã tin”.
Buona Pasqua.
Alleluia!Alleluia!Alleluia!
Không tìm gì hơn, Maria vụt bỏ chạy. Bà đi báo động cho đội tiền phong của nhóm nhỏ môn đồ: Phêrô và người môn đồ dấu yêu Hai kẻ này đã từng đấu tranh để dành chỗ nhất biết mấy! Trình thuật chúng ta là một tiếng vọng xa xôi của mối tranh chấp giữa họ. Người môn đồ yêu dấu đã theo Chúa Giêsu trước Phêrô (1,37-40). Nếu ông này đã là phát ngôn viên của cả nhóm trong một giây phút khủng hoảng (6,68-69), thì Gioan vẫn là người môn đồ thân thiết nhất, gần gũi nhất với Chúa Giêsu trong bữa Tiệc cuối cùng (13,23), bữa tiệc mà Phêrô chỉ được cái là xử trí sai lầm. Tính táo bạo thiếu suy nghĩ của Phêrô còn lộ liễu ở vườn Ghetsêmani, nơi mà nhát kiếm vô ích của ông cho thấy ông kém thông minh rõ ràng (18, 10- 11). Và khi đến giây phút quyết định thì ông lại chối Chúa Giêsu (18, 17). Người môn đồ dấu yêu trái lại đứng kề thập giá và được Chúa Giêsu trao phó mẹ người cho (19,25). Nếu xét khách quan kỹ lương, thì ông này là kẻ xứng đáng cầm đầu nhóm nhất. Người đồ đệ ấn hành tác phẩm Gioan quả không lầm về điểm đó: nịnh thuật việc trao quyền cho Phêrô cố ý “hóa giải” ba lần chối Chúa và Phêrô anh như cũng bỡ ngỡ thấy mình được cho đứng trên người môn đồ dấu yêu (21, 15-22). Chúng ta đừng quên rằng đây là một sự tuyển chọn.
Phần Maria, phải có sự trợ lực của hai thiên sứ. Thật là một cuộc hiện ra rất gợi hình: họ mặc áo trắng, như thói quen của các nhân vật thiên quốc (Mc 9,3 và ss; 16,5 và ss: Cv 1, 10 ; Kh 3, 4-5 ; 4, 4). Nhị vị ngồi hai đầu nơi đã đặt xác Chúa Giêsu (Lc 24, 4) : nghĩa là thực tại thiên giới muốn phân định đâu là nơi đã an táng Người. Dấu hiệu này lẽ ra đủ cho Maria hiểu. Nhưng một lần nữa, phản ứng nhân loại của bà lại cản trở sự hiểu biết của đức tin. Đáp câu hỏi của thiên thần, bà trút cả nỗi niềm xao xuyến và như vậy cho thấy chẳng hiểu gì trơn. Người ta đã cất xác Chúa bà và không biết họ đặt Người ở đâu. Trên miệng bà, tiếng Chúa có nghĩa là Thầy yêu dấu. Nhưng đối với thánh sử và độc giả, đó là Đấng Phục sinh. Song Mana còn khuya mới nghĩ tới chuyện sống lại! Đấy là chủ đề “ngộ nhận” trong Gioan (.x. 11, 23-24).
Tác giả: Đức Hữu · Bài gốc: Giáo phận Bùi Chu
Để lại một bình luận